Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2017

Vàng bị mất giá 4 tuần liên tiếp

Chốt phiên cuối tuần, mỗi ounce giảm 2,5 USD xuống 1.219 USD do đồng USD mạnh lên sau thông tin tích cực từ kinh tế Mỹ.


Giá này tương đương 31,22 triệu đồng mỗi lượng (chưa tính thuế, phí, gia công). Giá trong nước hôm qua đóng cửa tại 35,89-36,01 triệu đồng.
Chỉ số S&P 500 đã tăng 0,6% sau báo cáo cho thấy Mỹ tăng trưởng mạnh nhất 2,5 năm trong quý II, với tất cả thành phần GDP đều đóng góp vào mức tăng này. Đây là tín hiệu tích cực cho kinh tế Mỹ những tháng cuối năm.
Sau thông tin trên, USD hôm qua tăng 0,5% so với rổ tiền tệ lớn trên thế giới. Đây cũng là tuần tăng thứ 11 liên tiếp của đồng tiền này.
gold-scmp-7684-1411778856.jpg
Giá vàng thế giới đã giảm 4 tuần liên tiếp. Ảnh: SCMP
Việc này đã khiến kim loại quý mất sức hấp dẫn. Thị trường đã đi xuống 4 tuần liên tiếp, dài nhất từ tháng 4 năm ngoái, sau khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) ra tín hiệu đẩy nhanh tốc độ tăng lãi suất. “Mọi người đều đổ tiền vào USD và đó là sức ép chính lên giá vàng. Ngoài ra, ít tiền kích thích đổ vào thị trường cũng làm giảm nguy cơ lạm phát”, Michael Matousek – trưởng bộ phận giao dịch tại U.S. Global Investors nhận xét.
Giá các hợp đồng giao tháng 12 giảm 6,5 USD xuống 1.215 USD một ounce. Phiên ngày thứ Năm, giá từng xuống đáy 9 tháng tại 1.206 USD, trước khi bật lên nhờ lực bán tháo trên thị trường chứng khoán.
Theo giới phân tích, đà bán kỹ thuật có thể đẩy vàng xuống thấp nữa, sau khi mốc trung bình trượt 50 ngày rơi xuống dưới 200 ngày, lần đầu tiên kể từ tháng 5. Nhà đầu tư cũng đang theo dõi chặt thị trường trái phiếu Chính phủ Mỹ, khi Giám đốc đầu tư quỹ trái phiếu Pimco – Bill Gross tuyên bố rời công ty để gia nhập đối thủ - Janus Capital.

Quy mô thương mại điện tử Việt sẽ vượt một tỷ USD

Theo ông Sean Preston, số người sử dụng Internet tại Việt Nam năm 2013 tăng 2 triệu so với 2012, được đánh giá là tăng nhanh nhất Đông Nam Á và hiện đứng thứ 2 trong khu vực.

Nhận định được ông Sean Preston, Giám đốc khu vực Việt Nam, Lào, Campuchia của Visa tại Toạ đàm Phát triển thanh toán trong thương mại điện tử diễn ra chiều 26/9 tại TP HCM.

Với tiền đề trên, ông Preston cho rằng, quy mô thương mại điện tử Việt Nam được ước tính đạt 1,1 tỷ USD vào năm 2014, và sẽ tăng hơn 20% mỗi năm. Trong đó, tỷ lệ giao dịch mua vé máy bay và các dịch vụ liên quan đến du lịch tại nước ngoài khá cao.
Tại diễn đàn này, Vụ trưởng Vụ thanh toán Ngân hàng Nhà nước Bùi Quang Tiên cũng nhìn nhận thương mại điện tử ngày nay đã trở nên phổ biến trên toàn cầu. Nhiều quốc gia còn coi thương mại điện tử là một trong những động lực phát triển chủ yếu để tiếp cận và hội nhập vào nền kinh tế số.
moi-3857-1411747141.jpg
Các diễn gải tại toạ đàm. Ảnh: Lệ Chi
Trong Đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 có mục tiêu tăng mạnh số người dân được tiếp cận các dịch vụ thanh toán, nâng tỷ lệ người dân có tài khoản tại ngân hàng lên mức 35-40% dân số đến cuối năm 2015; phát triển dịch vụ thanh toán thẻ, trọng tâm là phát triển thanh toán qua điểm chấp nhận thẻ, đến năm 2015 có khoảng 250.000 thiết bị chấp nhận thẻ được lắp đặt với số lượng giao dịch đạt khoảng 200 triệu giao dịch mỗi năm.
Theo ông Tiên, đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã thiết lập được hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng kết nối 66 đơn vị thành viên thuộc Ngân hàng Nhà nước và 463 đơn vị thành viên trực tiếp thuộc 94 tổ chức tín dụng, đáp ứng nhu cầu thanh, quyết toán tức thời và dung lượng cao, là cơ sở quan trọng, tạo điều kiện thúc đẩy thương mại điện tử trong nước phát triển.
Tính đến tháng 6/2014, có 50 ngân hàng phát hành thẻ với 72,1 triệu thẻ và 470 thương hiệu. Trong đó, thẻ ghi nợ chiếm gần 92%, thẻ tín dụng chiếm 3,8%, còn lại là thẻ trả trước. Việc triển khai các dịch vụ thanh toán điện tử của ngân hàng thương mại trong thời gian vừa qua, đặc biệt là thanh toán qua Internet, điện thoại di động, đã đạt được những kết quả khá ấn tượng. "Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ khá lớn, số lượng và giá trị giao dịch tăng cao, năm 2013 tăng tương ứng 83% và 42% so với năm 2012", ông Tiên thông tin.
Tuy nhiên, hoạt động thương mại điện tử nói chung và thanh toán trực tuyến nói riêng tại Việt Nam hiện nay vẫn còn gặp khá nhiều trở ngại do tâm lý thiếu tin tưởng của người tiêu dùng.
"Nhiều người chưa thật sự tin tưởng vào các đơn vị chấp nhận thẻ trực tuyến. Thói quen của người tiêu dùng thích kiểm chứng hàng hóa trước khi trả tiền cũng khiến cho giao dịch điện tử chưa được thu hút", ông Sean Preston pân tích.
Ông Nguyễn Phát Vĩnh Lợi, Trưởng văn phòng Banknet tại TP HCM cũng cho hay, một nguyên nhân khác nữa là do lượng người đăng kí sử dụng giao dịch trực tuyến tại ngân hàng rất ít. Thực tế 72 triệu thẻ ATM phát hành, chỉ có 50% là có người sử dụng thực. Trong đó, chỉ có 10% là đăng kí giao dịch trực tuyến, chiếm khoảng 3 triệu thẻ ATM. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng thương mại điện tử còn nhiều rủi ro và hạn chế nên chưa thúc đẩy được người tiêu dùng an tâm sử dụng.
Do vậy, để tạo độ tin cậy và thu hút người dùng, Đại diện Cục Cảnh sát Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (C50) Bộ công an cho rằng, thời gian tới, các đơn vị liên quan cần tăng cường bảo mật trong giao dịch. Theo đó, đưa ra các công cụ, phương tiện để kiểm tra, sát thực tin, cài đặt các phần mềm bảo mật và hoàn thiện qui định về an ninh, an toàn trong thanh toán thương mại điện tử.
Từ tháng 9/2014, VnExpress tổ chức Chương trình bình chọn ngân hàng điện tử yêu thích nhất tại Việt Nam - My Ebank, với sự bảo trợ của Ngân hàng Nhà nước và cố vấn chuyên môn của Công ty Dịch vụ thẻ Smartlink. Hội đồng Chuyên môn của chương trình gồm 8 thành viên là lãnh đạo các cơ quan chức năng, hiệp hội và doanh nghiệp hàng đầu về thanh toán không dùng tiền mặt
Tất cả các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước đang cung cấp dịch vụ Internet Banking và Mobile Banking cho khách hàng cá nhân tại Việt Nam đều có thể đăng ký tham gia chương trình. Dựa trên năng lực thực tế của các ngân hàng, đánh giá của Hội đồng Chuyên môn và bình chọn của độc giả, Ban Tổ chức sẽ công bố Top 5 ngân hàng được yêu thích ở từng hạng mục Internet Banking và Mobile Banking. Giải thưởng chính thức của chương trình, My Ebank sẽ được trao cho ngân hàng có tổng điểm cao nhất ở cả hai hạng mục.
Độc giả bắt đầu tham gia bình chọn trên http://myebank.vnexpress.nettừ 8h00 ngày 6/10/2014 đến 24h00 ngày 2/11/2014. 
Lễ công bố và trao giải thưởng My Ebank 2014 sẽ diễn ra tại Hà Nội đầu tháng 11.

Việt Nam có thể giảm lệ thuộc kinh tế vô Trung Quốc

Chuyên gia đến từ Viện Chiến lược Phát triển cho rằng trong lịch sử Việt Nam đã chứng tỏ khả năng thích nghi, khi những quan hệ kinh tế tưởng không thể thay thế mất đi.


Quan điểm này được PGS. TS Bùi Tất Thắng - Viện Chiến lược Phát triển đưa ra trong tham luận về quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc đưa ra tại Diễn đàn kinh tế Mùa thu, đang diễn ra tại Ninh Bình.
Cụ thể, chuyên gia này cho rằng, đã từng có giai đoạn, kinh tế Việt Nam gắn chặt với Liên Xô và những nước Đông Âu, tưởng như không thể thay thế. Tuy nhiên, khi Liên Xô sụp đổ, nền kinh tế vẫn đủ sức vượt qua. "Vì thế, chúng tôi cho rằng, chẳng có lý do gì để không vượt qua được những khó khăn do trục trặc trong hệ kinh tế do Trung Quốc gây ra”, chuyên gia này nhận định.
Cũng theo tham luận, Việt Nam có rất ít quan hệ kinh tế với Trung Quốc trong những năm 80 của thể kỷ trước. Liên hệ này chỉ thực sự phát triển nhanh chóng từ năm 1991, nhất là từ khoảng giữa thập niên 2000. Tuy nhiên, trên cả 3 lĩnh vực hợp tác chính là thương mại, đầu tư và du lịch, Việt Nam đều nhận phần thua thiệt. 
Kt-TQ-1873-1411791854.jpg
Các chuyên gia cho rằng Việt Nam hoàn toàn có thể giảm lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc. Ảnh: Getty
Về thương mại, với quan hệ mậu dịch tăng trưởng nhanh chóng, từ 2004 đến nay, Trung Quốc là đối tác lớn nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, nhập siêu từ thị trường này cũng ngày một lớn, nhất là từ năm 2007 đến nay. Những năm gần đây, con số này chiềm gần như toàn bộ hoặc cao hơn nhập siêu của nền kinh tế.
Theo phân tích của ông Thắng, trong quan hệ thương mại song phương, tương quan vị thế rất khác nhau. Hàng xuất khẩu của Việt Nam năm cao nhất cũng chưa đầy 0,7% giá trị nhập khẩu của Trung Quốc so với mức trên 25% ở chiều ngược lại (chênh lệch trên 37 lần).
Về đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam không thuộc loại lớn (khoảng 6 tỷ USD đăng quý). Quy mô vốn đầu tư bình quân trên một dự án, các dự án đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam cũng nhỏ (khoảng 7 triệu USD một dự án, bằng một nửa mức bình quân). Phần lớn FDI của Trung Quốc được đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp và trải rộng trên địa bàn của 55 trên 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, tạo ra khoảng 100.000 chỗ làm việc trực tiếp. Bên cạnh đó, phần đầu tư gián tiếp chính thức của Trung Quốc vào thị trường chứng khoán Việt Nam cũng có quy mô còn nhỏ. Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng mới có 13 dự án đầu tư sang Trung Quốc với 16 triệu USD.
Trong lĩnh vực du lịch, số lượng khách du lịch từ Trung Quốc đến Việt Nam tăng nhanh trong những năm gần đây. Năm 2007 có hơn 557.000 lượt khách, đến năm 2013 đạt đến 1,9 triệu lượt. Lượng khách này chiếm hơn 20% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Tuy nhiên, theo đánh giá của các công ty du lịch, mức chi tiêu bình quân của khách Trung Quốc còn rất thấp. 
Trước những thống kê này, giới chuyên gia nhận định, về cơ bản, các quan hệ kinh tế và văn hóa giữa 2 nước tỏ ra khá bền vững, xuất phát cả từ lý do lịch sử lẫn nhu cầu thực tế. Song, xét ở góc độ quốc gia, để mối quan hệ đó bình đẳng, thì nội lực kinh tế của Việt Nam phải mạnh lên. Điều này cần thời gian và một cách tiếp cận khác so với hiện nay.
"Vấn đề là tìm giải pháp cho việc nâng cao vị thế của Việt Nam trong mối quan hệ kinh tế đó. Trước mắt, có thể là giá trị buôn bán sẽ ít đi, lượng FDI và khách du lịch từ Trung Quốc sẽ giảm xuống… làm ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của Việt Nam. Chẳng ai phủ nhận điều này trong ngắn hạn. Nhưng vấn đề là mức độ tác động đến đâu và nền kinh tế có thể vượt qua được những khó khăn nhất thời đó không?", ông Thắng nhấn mạnh. 
Tại diễn đàn, chuyên gia Bùi Trinh cũng đưa ra những giả thuyết về việc giảm ảnh hưởng của kinh tế Trung Quốc với Việt Nam có thể khiến GDP giảm khoảng 1,68%. Tuy nhiên, nếu thay thế xuất khẩu sang Trung Quốc bằng các thị trường khác thì lại giúp GDP tăng lên. Theo đó, theo ông Trinh, dù không có những căng thẳng địa chính trị với Trung Quốc nhưng nếu nền kinh tế Việt Nam không nhanh chóng thay đổi, nguy cơ 'đau ốm' triền miên sẽ hiển hiện. 
"Như vậy, cộng cả vụ dàn khoan thì càng cần thực hiện nhanh chóng và quyết liệt thông điệp đầu năm của Thủ tướng, ngoài ra cấu trúc kinh tế cũng cần thay đổi chuyển hướng từ xuất khẩu của khu vực công nghiệp chế biến sang xuất khẩu dịch vụ", chuyên gia này đưa ra giải pháp.

Ông Trương Văn Phước: 'Cần dùng mưu trí để xử lý về nợ xấu'

Trong điều kiện Nhà nước không có tiền xử lý nợ xấu thay ngân hàng, cần tìm cách cắt giảm chi phí, giúp họ có nguồn thu để tự chữa căn bệnh nan y và khơi thông tín dụng cho nền kinh tế, theo Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.


Theo tiến sĩ Trương Văn Phước – Phó chủ nhiệm Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, vấn đề hiện nay không phải tăng trưởng tín dụng bao nhiêu mà là phải tìm ra căn nguyên, cội rễ vì sao một nền kinh tế rất cần vốn để tăng trưởng như Việt Nam mà lại không hấp thụ được vốn. Ông trao đổi với VnExpress trước thềm Diễn đàn Kinh tế mùa Thu do Ủy ban Kinh tế Quốc hội tổ chức hai ngày cuối tuần này, nơi các chuyên gia sẽ phân tích tình hình kinh tế hiện nay cũng như nhìn lại 3 năm tái cơ cấu.
- Tín dụng ngân hàng đến 16/9 mới tăng 6,19%, quá xa so với chỉ tiêu 12-14% Quốc hội giao cho cả năm, theo ông đâu là lý do chính?
Truong-Van-Phuoc-1-8832-1411727282.jpg
Ông Trương Văn Phước từng là cán bộ Ngân hàng Nhà nước, tham gia điều hành ngân hàng thương mại trước khi được bổ nhiệm Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia. Ảnh: S.L.
- Vốn huy động cao, tín dụng thấp là câu chuyện kéo dài từ năm ngoái đến nay. Nhưng tín dụng cũng giống như ôtô chạy trên đường, muốn chạy nhanh thì bản thân chiếc xe phải khỏe và đường thông thoáng. Đường gập ghềnh, qua ổ voi, ổ gà thì lái xe cũng phải cẩn trọng chạy chậm lại. Khách quan thị trường thì nền kinh tế vẫn rất khó khăn, sức cầu yếu, chu chuyển hàng hóa còn chậm. Động lực vay vốn của doanh nghiệp yếu đi do quá trình sản xuất kinh doanh còn khó khăn, thể hiện qua số doanh nghiệp giải thể, phá sản lớn. Tốc độ tăng trưởng tín dụng mấy tháng nay cao hơn do thị trường có những chuyển biến nhất định, nhưng nhìn chung mức tăng này khá bấp bênh do chủ yếu xuất phát từ nhu cầu vốn lưu động, phục vụ thanh toán các khoản đến hạn.
Công tâm mà nói thì bản thân hệ thống ngân hàng cũng đang có những vết thương, canh cánh bên lòng câu chuyện làm sao xử lý nợ xấu. Nợ xấu không chỉ là những con số viết lên bảng để ca thán, mà thực sự nó đang bào mòn sức khoẻ của hệ thống ngân hàng khi phải dành chi phí rất lớn để trích lập dự phòng cho những khoản có thể bị tổn thất. Các ngân hàng cẩn trọng cho vay trong nỗi ám ảnh nợ xấu gia tăng như vậy là diều dễ hiểu.
- Ngoài nguyên nhân nợ xấu và sức cầu của nền kinh tế, người ta cho rằng tín dụng tăng chậm là do ngân hàng quá dè dặt cho vay. Từng làm CEO ngân hàng 10 năm, ông lý giải thế nào về điều này?
- Người làm tín dụng lúc này phải cẩn trọng hơn bất cứ lúc nào bởi nợ xấu là câu chuyện nhức nhối hơn bao giờ hết. Họ chịu rất nhiều áp lực, không chỉ hiệu quả tài chính mà ở trách nhiệm pháp lý, nên trong tâm thức họ khó có thể hào hứng. Tuy nhiên đây không phải là lý do chính khiến tín dụng tăng chậm.
Như tôi đã nói, nền kinh tế đang khó khăn, sức cầu yếu, tự thân ngân hàng dù muốn cũng rất khó cho vay. Sinh nghề tử nghiệp, họ đã lựa chọn con đường làm ngân hàng thì đương nhiên phải chấp nhận rủi ro trong hoạt động tín dụng. Thực tế, thị trường cho thấy mối tương quan giữa ngân hàng và doanh nghiệp đi vay nay đã đổi khác rất nhiều, có những khoản vay lãi suất chỉ 5-6% một năm đã nói lên thực trạng mối quan hệ này.
- Vậy theo ông cần làm gì để tín dụng có thể tăng trưởng tốt hơn?
- Theo tôi, năm nay tín dụng tăng được 9-10% là tốt rồi. Đương nhiên, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng phần lớn dựa vào nguồn cung vốn nội địa, nhưng cũng không nên quá gò ép để tín dụng tăng trưởng cao hơn mà nới lỏng điều kiện để rồi có thể gây ra rủi ro. Quan trọng là phải có những giải pháp căn cơ để tín dụng tăng bền vững.
Đầu tiên, phải cải thiện sức cầu của nền kinh tế vì đây là nguyên nhân quan trọng bậc nhất khiến vốn có bơm ra được hay không. Có lẽ không nên mất thời gian để đặt ra câu chuyện kích cung hay kích cầu nền kinh tế nữa.
Ngoài ra, để tăng trưởng tín dụng nhanh hơn, lãi suất cũng là yếu tố cần tính tới. Dù tiếp cận ở góc độ nào đi chăng nữa, giá thấp bao giờ cũng tạo nên cầu cao, và lúc này chúng ta đang mong muốn có cầu tín dụng cao hơn. Hiện giá iPhone 6 khá đắt đỏ nên lượng người mua ít, nhưng nếu giá thấp xuống vài ba triệu đồng thì nhiều người sẽ mua hơn.
Ở đây có thể nảy sinh câu chuyện dễ tranh luận là lãi suất bây giờ đã thấp rồi, thậm chí đã ngang bằng với những năm 2005 – 2006, lúc nền kinh tế khá ổn định. Tuy nhiên, thể trạng của nền kinh tế những năm đó và bây giờ đã khác đi nhiều, nên việc để cho mặt bằng lãi suất thấp hơn sẽ là một chất kích thích, vitamin giúp cho cơ thể đó phục hồi. Năm nay, lạm phát cả năm khá thấp, dự kiến chỉ dao động 4-5%, do đó cần cân nhắc kỹ lưỡng để lãi suất thị trường thấp xuống.
- Ông cho rằng cần hạ lãi suất tương bối cảnh lạm phát tháp xuống, nhưng ngân hàng phải ứng xử thế nào nếu sang năm kinh tế phục hồi và chỉ số giá tiêu dùng bùng phát, mà các khoản vay lại có kỳ hạn dài?
-  Chúng ta cần cái nhìn thực tế hơn. Nền kinh tế có vẻ chưa phục hồi nhanh tới mức khiến lạm phát năm 2015 tăng cao như chúng ta e ngại. Kể cả khi sự phục hồi lạc quan hơn mong đợi, lạm phát năm sau cũng chỉ đâu đó khoảng 5%. Hơn  nữa, đà phục hồi của nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng, mà tín dụng vẫn tăng chậm, thị trường vốn còn nhiều hạn chế và những nguồn lực từ bên ngoài cũng không lớn như chúng ta mong muốn.
Cho nên, những hành động quyết liệt, táo bạo để kích thích nền kinh tế cần được xem xét nghiêm túc. Chúng ta có quá nhiều kinh nghiệm trong ứng xử mối tương quan giữa tăng trưởng và lạm phát, chỉ có điều khi mặt bằng này hạ xuống, chênh lệch lãi suất huy động và cho vay vẫn phải đảm bảo mức vừa đủ để các ngân hàng có nguồn thu nhằm tăng cường chống đỡ căn bệnh nợ xấu. Làm được điều này là cả nghệ thuật.
- Nghệ thuật đó là gì, thưa ông?
- Đảm bảo chênh lệch hợp lý không nhất thiết lúc nào cũng phải giữ khoảng cách giữa lãi suất huy động và cho vay, mà cần tìm cách cắt giảm chi phí cho ngân hàng.
Trước hết, phải nói kỹ hơn về nợ xấu. Nếu chúng ta có thể cân đối nguồn lực như nhiều quốc gia khác trên thế giới để xử lý nợ xấu thì không phải gian nan và vất vả như thời gian qua. Bài toán làm sao để chữa căn bệnh nợ xấu trong bối cảnh nguồn lực hạn chế là bài toán khó khăn. Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng (VAMC) bước đầu đã làm được một số việc, dù cũng rất khó khăn. Các quan điểm về trần nợ công bao nhiêu là hợp lý đối với nền kinh tế Việt Nam thường được tranh cãi rất nhiều, nhưng nếu đầu tư  công có hiệu quả cao, ngân sách có thể cân đối được thì cần có một khoản tạm ứng ngân sách để xử lý nợ xấu (không phải một khoản chi ngân sách). Sau khi quá trình xử lý nợ xấu thành công, chúng ta có thể hoàn trả khoản nợ xấu này. Vấn đề này cần được xem xét xử lý trong tổng hòa với các mối quan hệ kinh tế khác.
Trong khuôn khổ các giải pháp kỹ thuật có thể tăng cường để xử lý nợ xấu thông qua VAMC, tôi cho rằng có thể cần thêm một số điều chỉnh và giải pháp nữa. Ví như các trái phiếu của VAMC có thể kéo dài thời gian từ 5 năm lên 10 năm vì quá trình xử lý nợ xấu không thể nhanh chóng được. Như thế, chi phí cho trích lập dự phòng rủi ro với trái phiếu cũng tức là trích lập dự phòng rủi ro cho nợ xấu có thể được phân bổ trong thời gian dài hơn, giúp tổ chức tín dụng chịu các chi phí tài chính ít hơn.  Đây cũng là một trong những động lực và điều kiện để các tổ chức tín dụng tính toán khi suy nghĩ bán nợ xấu cho VAMC.
Một vấn đề nữa cần đặt ra là tình hình tài chính của các tổ chức tín dụng ngày càng khó khăn hơn do tín dụng tăng chậm và chênh lệch lãi suất thấp hơn nhiều, thể hiện qua chỉ số ROE, ROA giảm xuống. Từ đó đặt ra câu chuyện Ngân hàng Nhà nước cần tái cấp vốn khối lượng lớn hơn, lãi suất thấp hơn (khoảng 2-3%) cho các khoản trái phiếu tổ chức tín dụng này nắm giữ. Bản chất VAMC mua nợ không thanh toán bằng tiền mà trả cho ngân hàng trái phiếu. Vậy thì hãy cho ngân hàng mang trái phiếu đi vay vốn với lãi suất rẻ hơn.
Đấy là cách nuôi dưỡng hệ thống ngân hàng để họ có nguồn thu, cùng Nhà nước chữa căn bệnh nan y và nền kinh tế vẫn được hưởng lợi khi lạm phát thấp.
- Tuy nhiên nợ xấu xử lý chậm chạp thời gian qua được cho là do VAMC tay không bắt giặc và một số chuyên gia đề nghị có giải pháp giúp VAMC xử lý nợ xấu nhanh hơn. Ý kiến của ông về việc này như thế nào?
-  Xử lý nợ xấu là một cuộc trường chinh, đừng ảo tưởng ngay ngày hôm nay xử lý xong bởi đã cho vay ắt phải chấp nhận rủi ro. Nhưng nói thời gian qua VAMC tay không bắt giặc cũng là không chính xác vì công ty này dưới sự điều hành của Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều chính sách đặc thù mà chỉ với quyền năng của một ngân hàng trung ương mới có được.
Chúng ta phải thừa nhận rằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều vấn đề cần phải bổ sung, chỉnh sửa để giúp xử lý nợ xấu. Ví như hiện nay để xử lý các khoản nợ, ngân hàng thương mại và người vay tiền phải trải qua quá trình tố tụng mất rất nhiều thời gian. Chúng ta có thể chỉnh sửa, bổ sung để các tài sản đảm bảo được định giá bởi một trung tâm uy tín và phát mãi nhanh chóng, thông qua một Nghị quyết của Chính phủ để làm quá trình xử lý nợ xấu nhanh hơn. Làm được điều này thì nợ xấu giảm đi, đồng thời các tổ chức tín dụng cũng củng cố được năng lực tài chính.
Vấn đề khác nữa là cần có chính sách mạnh mẽ hơn để tạo sức cầu cho thị trường bất động sản, mở rộng các đối tượng mua bán kinh doanh nhà đất nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc xử lý các tài sản đảm bảo.
Dĩ nhiên, nếu Nhà nước có nguồn lực tài chính dồi dào thì không tội gì chúng ta chọn con đường khó khăn để xử lý nợ xấu, nhưng trong bối cảnh không có tiền, phải dùng mưu, trí. Hơn bao giờ hết chúng ta cần có những hành động cụ thể chứ không nói chuyện cao siêu, trọng đại nhưng viển vông.

Bộ ngành nên từ bỏ về quyền năng đại diện vốn

Chức năng đại diện quyền sở hữu và quản lý nhà nước chưa tách bạch là một lý do khiến quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước vẫn giậm chân tại chỗ.


Nhìn lại quá trình tái cơ cấu những “quả đấp thép” trong 3 năm qua là chủ đề tham luận chính trong Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu khai mạc hôm nay (27/9) tại Ninh Bình.
Nhiệm vụ quan trọng nhất trong quá trình tái cơ cấu khối doanh nghiệp này là cổ phần hóa. Mục tiêu Chính phủ đặt ra trong 2 năm 2014-2015 phải cổ phần hóa 532 doanh nghiệp Nhà nước, căn bản hoàn thành chương trình cổ phần hóa khu vực này.
6 tháng đầu năm nay, mới có 38 doanh nghiệp được cổ phần hóa. Con số của cả 2 năm trước là 29. Chuyên gia Đinh Tuấn Minh bình luận tiến độ này quá chậm chạp và kết quả đạt được mới dừng ở việc phê duyệt các kế hoạch tái cơ cấu thay vì những hành động cụ thể.
Viện trưởng Viện Kinh tế - Trần Đình Thiên nhận định: “Trong bối cảnh cả nền kinh tế khó khăn, đặc biệt là nguồn lực tài chính thì con số nêu trên dường như là một thách thức to lớn mà Chính phủ tự đặt ra cho mình”.
co-phan-hoa-0-1580-1411775858.jpg
Vietnam Airlines là một trong những trường hợp cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước được chờ đơi trong năm nay. Ảnh minh họa: Reuters
Thay đổi đáng kể nhất được ông Thiên nhận thấy là việc cải tiến mô hình quản trị doanh nghiệp Nhà nước thông qua điều chỉnh lại quy định về về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; giảm bớt quyền lực của hội đồng quản trị của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, chuyển lên cấp trên là các bộ quản lý chuyên ngành.
Tuy nhiên, những điều chỉnh trên đây chưa động chạm tới việc tách bạch chức năng quyền sở hữu nhà nước với chức năng quản lý nhà nước tại các cơ quan chủ quản. “Số đầu mối đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước vẫn không thay đổi, các cơ quan đảm nhiệm chức năng quản lý nhà nước tiếp tục kiêm nhiệm đại diện vốn chủ sở hữu nhà nước”, ông nhận xét.
“Cơ chế thực hiện chức năng sở hữu có quá nhiều đầu mối, chưa có những chuyển biến rõ nét về việc giảm các đầu mối quản lý doanh nghiệp Nhà nước”, TS Đinh Tuấn Minh đồng tình.
Một thống kê của ông Trần Tiến Cường thuộc Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho biết thấy cuối năm 2011, Việt Nam có tới 101 đầu mối quản lý trực tiếp hơn 1.300 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. 
Với số lượng đầu mối quản lý lớn như vậy thì việc thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với các doanh nghiệp này trở nên rất khó giám sát. Các quyết định về nhân sự, về phương hướng phát triển kinh doanh, về thụ hưởng quyền lợi từ kết quả hoạt động của doanh nghiệp trở nên khó ăn nhập với nhau. Cách thức thực hiện giám sát chủ yếu căn cứ vào các báo cáo của doanh nghiệp, trong khi cơ chế xác định tính xác thực của các báo cáo này còn bị bỏ ngỏ. 
Cho nên, theo các chuyên gia, Chính phủ cần mạnh dạn đổi mới tư duy về quản trị doanh nghiệp Nhà nước, nên thuyết phục từ bỏ chức năng đại diện quyền chủ sở hữu của các bộ, ngành và địa phương để tập trung và chuyên môn hoá vào việc xây dựng các chính sách quản lý và giám sát. 
Tốc độ thoái vốn ngoài ngành cũng khiến giới chuyên gia quan ngại. Tính đến hết 2013, các doanh nghiệp Nhà nước mới chỉ thoái được hơn 4.000 tỷ đồng trên hơn 21.000 tỷ phải thoái vốn đến hết 2015.
Trong khi đến giữa 2014 mới chỉ thoái được khoảng 23% lượng vốn đầu tư ngoài ngành mà Chính phủ từng đặt ra hồi năm 2011. “Quá trình thoái vốn hiện tại về cơ bản vẫn là việc các doanh nghiệp Nhà nước chuyển phần vốn đầu tư ngoài ngành của mình sang cho các doanh nghiệp Nhà nước khác”, một chuyên gia bình luận.
Do vậy, xét về tổng thể nếu quá trình tiếp tục diễn biến như hiện tại thì hoặc có thể sẽ không cán được đích đề ra vào cuối 2015, hoặc nếu đạt được thì sẽ ở dưới dạng thoái vốn nội bộ, và khi đó, lại tạo gánh nặng cho quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Viện trưởng Thiên nói rằng nếu một năm trước yêu cầu “phải bảo toàn phần vốn và tài sản của Nhà nước” luôn được đem ra làm lý do cho sự chậm trễ thì nay, với Nghị quyết 15 của Chính phủ, rào cản này đã được tháo gỡ. “Cản trở lớn nhất hiện nay là liệu doanh nghiệp có quyết tâm làm hay không mà thôi”, ông nói.
Tham luận của ông Đinh Tuấn Minh cũng chỉ ra rằng, một trong nhưng cản trở là rất khó rút bỏ các đặc quyền đặc lợi cũng như “ngân sách mềm” cho các doanh nghiệp Nhà nước. “Doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, không thanh toán được các khoán nợ đến hạn, không bị phá sản. Nhà nước về cơ bản vẫn đứng ra gánh chịu các khoản nọ cho doanh nghiệp dưới hình thức giản nợ, giảm nợ, chuyển nợ cho đơn vị khác hoặc bảo lãnh nợ… Điều này khiến cho những người đại diện chủ sở hữu và những người quản lý thiếu động lực”, ông Minh nhận xét. 
Trên cơ sở đó, các chuyên gia khuyến nghị, để giải quyết vấn đề này các doanh nghiệp cần lên kế hoạch rõ ràng về quy trình thoái vốn như thời điểm nào thì định giá xong, thời điểm nào thì các cơ quan có thẩm quyền phải phê duyệt, thời điểm nào thì đưa ra bán đầu giá, nếu không đấu giá thành công thì phần vốn nhà nước sẽ chuyển về cho SCIC như thế nào. 

Những nghề lạ đã bị tuyệt chủng

Nghề nhồi thuốc súng, lau ống khói, xem tướng não hay xẻ đá đều đã biến mất do sự phát triển của khoa học công nghệ.Những nghề lạ đã tuyệt chủng

Tạp chí The Economist từng dự đoán robot sẽ thay con người làm các công việc như bán hàng qua điện thoại, kế toán hay nhân viên siêu thị. Bill Gates cũng cho rằng trong tương lai, phần mềm máy tính có thể thay thế rất nhiều nghề nghiệp.
Sự phát triển của công nghệ đã khiến rất nhiều việc làm phổ biến thời xưa dần biến mất. Dựa trên số liệu của Cục thống kê lao động Mỹ từ năm 1850, thông tin của Mental Floss và tự nghiên cứu, Business Insider đã tìm ra các nghề hoàn toàn không còn tồn tại ngày nay.
 
1. Xem tướng não
Trước khi những người làm nghề này bị tẩy chay vì cho là phân biệt chủng tộc, giả khoa học, họ được rất nhiều người tin tưởng có thể “đọc được” trí thông minh, tính cách, dự báo tương lai bằng cách xem hình dạng đầu người khác.
 
2. Bắt đỉa
Ở thời mà việc chữa bệnh gắn liền với câu phán của bác sĩ - “hãy hút máu bệnh nhân ra”, nghề bắt đỉa rất thịnh hành. Những người làm nghề này sẽ tìm đỉa ở những nơi có nước, thường là ao hồ, dùng chân động vật hoặc chính chân mình để đỉa bám vào. Sau đó, họ sẽ chọn lọc những con có thể bán và đem đến chỗ bác sĩ.
 
3. Nhồi thuốc súng
Những người làm nghề này thường là các cậu bé, được mang lên tàu chiến với nhiệm vụ nhanh chóng nhồi đầy thuốc súng vào đại bác.
 
4. Canh lửa trong lò luyện kim
Các nhà giả kim thời xưa có nhiệm vụ nghiên cứu phương pháp biến đổi các kim loại thường như chì thành các kim loại quý. Vì vậy, họ luôn cần một người nào đó giữ cho lửa trong xưởng không bị tắt.
 
5. Máy tính
Máy tính (computer) từng là từ chỉ nghề nghiệp của một người. Trước khi được máy móc thay thế, những công việc như đổi đơn vị, tính toán đều do những người này làm, thường là phụ nữ.
 
6. Giao sữa
Trước khi nhà nhà đều có tủ lạnh, giữ sữa trong nhà không bị hỏng là việc rất khó. Vì thế, bạn sẽ cần đến người giao sữa hàng ngày.
 
7. Lau ống khói
Nhiệm vụ của những người này là làm sạch bồ hóng trên các ống khói do các gia đình liên tục đốt lửa để sưởi ấm trong mùa đông.
 
8. Chụp ảnh bằng phương pháp Daguerreotype
Daguerrotype cho phép tạo ra một hình ảnh trực tiếp trên bề mặt phủ bạc, không có một bản sao ảnh nào cũng như không có phim âm bản. Kỹ thuật chụp này đặc biệt phù hợp với ảnh chân dung.
 
9. Xé sợi gai
Những người làm nghề này từng đóng vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp vải lanh. Công việc của họ là tách bỏ phần xù xì ra khỏi cây gai.
 
10. Xẻ đá
Những người này có nhiệm vụ tách lấy đá từ trong đất để phục vụ cho mục đích xây dựng.
 

Kinh tế Việt vật vã đi lên

Nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển dùng hình ảnh này để trong tham luận mở đầu Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu 2014, sự kiện quy tụ các chuyên gia hàng đầu trong nước và thế giới.


Khai mạc sáng nay tại Ninh Bình, Diễn đàn Kinh tế Mùa Xuân do Ủy ban Kinh tế Quốc hội tổ chức thường niên và là một trong những sự kiện được giới chuyên gia trông đợi để phân tích, mổ xẻ tình hình kinh tế, phản biện chính sách, từ đó kiến nghị các giải pháp. Diễn đàn dành gần nửa thời gian để bàn về tình hình 2014-2015, trước khi đi sâu hơn vào đánh giá tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2012-2014.
GDP-0-8131-1411780002.jpg
Tổng cầu yếu là trở lực lớn với kinh tế Việt Nam hiện nay. Ảnh minh họa: Anh Quân
Tham luận với chủ đề "Kinh tế Việt Nam 2014 và triển vọng 2015" của nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển là phần đề dẫn quan trọng cho tuyến nội dung của diễn đàn, trong đó ông nhận định nền kinh tế đã thoát đáy song đang "vật vã để đi lên" khi mà tổng cầu còn yếu, nợ xấu không được giải quyết hiệu quả và đang có xu hướng tăng lên, tín dụng nhỏ giọt.
Nửa đầu năm 2014, tăng trưởng GDP cao hơn so với cùng kỳ 2013, lạm phát thấp hơn nhiều so với mục tiêu 7%; xuất khẩu tăng gần 15% giúp cán cân thương mại thặng dư khoảng 1,3 tỷ USD; tổng đầu tư toàn xã hội, doanh số bán lẻ... đều có tăng trưởng; ngân sách dự báo đạt kế hoạch đề ra...
Tuy nhiên, ông Tuyển và các chuyên gia đều cho rằng nội lực của doanh nghiệp vẫn rất yếu, chỉ số quản trị mua hàng PMI trên ngưỡng trung bình 50 nhưng đang giảm 4 tháng liên tiếp. Đặc biệt, khu vực doanh nghiệp tư nhân ngày càng yếu đi thể hiện ở tỷ trọng xuất khẩu giảm. Hệ thống phân phối đang bị chi phối bởi các nhà đầu tư nước ngoài. Khối FDI hiện đã chiếm tỷ trọng gần 70% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước.
Tình hình kinh tế 6 tháng và mục tiêu 2014
 Chỉ tiêu 2014Thực hiện 6 tháng
1. Tốc độ tăng GDP (%)5,85,18
Nông nghiệp 2,96
Công nghiệp & Xây dựng 5,33
Dịch vụ 6,01
2. Lạm phát (%)71,38
3. Tăng trưởng tín dụng12-14%4,5% (tính đến 26/8)
4. Xuất - nhập khẩu  
Xuất khẩuTăng 10%Tăng 14,9% so cùng kỳ
Nhập khẩu Tăng 11% so cùng kỳ
Chênh lệch +1,3 tỷ USD (1,7% XK)
5. Thu - chi nhân sách  
Thu ngân sách 48,25% dự toán (đến 15/6)
Chi ngân sách 44,6% dự toán (đến 15/6)
6. Tổng đầu tư xã hội Tăng 8,2% so cùng kỳ
(30,1% GDP)
7. Doanh số bán lẻ Tăng 5,7% 
(loại trừ yếu tố giá)
8. Tình hình doanh nghiệp  
Thành lập mới Giảm 4,1% so cùng kỳ
Tăng 19,3% về vốn
Giải thể - ngừng hoạt động Tăng 16,3% so cùng kỳ
Hoạt động trở lại Giảm 10,7% so năm trước
(Trích tham luận của ông Trương Đình Tuyển )
Ngay trong những tín hiệu được coi là tích cực nêu trên, dù tăng trưởng GDP đã cao hơn, ông Trương Đình Tuyển cho rằng khả năng đạt mục tiêu 5,8% khó xảy ra. Nếu muốn đạt con số này, nền kinh tế không có cách nào khác là đẩy mạnh khai thác dầu thô, than... như đã từng làm và cho thấy là không hiệu quả.
Một loạt những chỉ báo khác như tăng trưởng tín dụng ì ạch, doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động tăng và ngay cả việc lạm phát thấp cũng được các chuyên gia đưa ra một lý giải chung là tổng cầu yếu.
Nhóm chuyên gia Trần Thọ Đạt - Nguyễn Việt Hùng - Hà Quỳnh Hoa tại Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng phía cầu đã có những tín hiệu lạc quan hơn và có xu hướng tăng trở lại. Tuy nhiên, để có sự bứt phá, cần tác động từ chính sách tài khóa và tiền tệ của Chính phủ.
Trong khi đó ở phía cung, các học giả cho rằng chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) đã tăng nhưng chưa có sự bứt phá rõ ràng. Điều này cùng với xu hướng tăng của chỉ số hàng tồn kho và giảm của PMI cho thấy điều kiện sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp hiện tại vẫn còn khó khăn.
Đứng trước điểm nghẽn như vậy, vấn đề đặt ra là lựa chọn chính sách như thế nào được đa số các tham luận quan tâm và hiến kế.Bên cạnh những giải pháp lâu dài như đẩy mạnh tái cơ cấu, cải cách thể chế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, một giải pháp ngắn hạn được không ít ý kiến nhắc tới là tác động tăng tổng cầu như nới lỏng tiền tệ, tăng chi tiêu...
Tham luận của hai chuyên gia Bùi Trinh - Nguyễn Trí Dũng gây chú ý khi cho rằng việc tác động lên tổng cầu - nếu có, sẽ có những điểm tương đồng như học thuyết kinh tế Abenomics đang được Nhật Bản áp dụng, bao gồm 3 mũi tên: kích thích tài chính, nới lỏng tiền tệ và cải cách cơ cấu.
Theo các tác giả Bùi Trinh và Nguyễn Trí Dũng, nếu tiếp tục kích cầu thì chỉ nên thực hiện ở khu vực tư nhân. Tuy nhiên, hệ số sinh lời của khối này ngày càng giảm, xuống mức khoảng trên 1%. Trong khi lãi suất phải trả ngân hàng trên dưới 10%. Do đó, về mặt kinh tế, các doanh nghiệp này không có động cơ đầu tư mở rộng sản xuất.
Tuy vậy, theo các tác giả chương trình này chỉ có thể thành công dựa trên nền tảng sản xuất (phía cung) rất mạnh mẽ, hàng hóa nhiều với chất lượng cao và giá cả thấp. Điều này khác hoàn toàn với Việt Nam khi phía cung vẫn còn yếu kém, sản xuất cơ bản là gia công. Việc can thiệp vào phía cầu khi đó được các chuyên gia này cho rằng không làm tăng sản lượng, mà chỉ làm nền kinh tế đứng trước nhiều rủi ro về vĩ mô (lạm phát, nhập siêu...).
Do đó, các chuyên gia ho rằng nhà điều hành cần nhất quán quan điểm hy sinh những mục tiêu ngắn hạn (tăng trưởng…) để dũng cảm từ bỏ những chính sách quản lý tổng cầu, kiên trì đẩy mạnh các biện pháp tái cơ cấu nền kinh tế - về cơ bản chính là chính sách trọng cung. 
"Đó mới là “kế lâu bền” để đẩy sản lượng tiềm năng lên mức cao hơn và đạt được sự tăng trưởng bền vững, lâu dài, hơn mà không chỉ là “kích cầu” ngắn hạn để năm nay hoặc năm tới có được mức tăng trưởng như ý để làm đẹp báo cáo", tham luận viết.

Lịch sử của các chiếc thẻ ngân hàng

Gần 15 tỷ thẻ ngân hàng đã được phát hành trên khắp thế giới kể từ khi chiếc thẻ đầu tiên ra đời 50 năm trước.


Cuối những năm 1800, các nhà buôn và người tiêu dùng Mỹ đã dùng khái niệm uy tín, tín nhiệm khi trao đổi hàng hóa, như sử dụng một số loại xu hay tấm thẻ thay cho tiền mặt.
Đến năm 1946, thẻ ngân hàng đầu tiên xuất hiện và mang tên "Charg-It", do John Biggins ở Brooklyn (New York) nghĩ ra. Khi khách hàng mua sắm, hóa đơn sẽ được chuyển đến ngân hàng của Biggins. Ngân hàng trả tiền cho nhà kinh doanh và sau đó khách hàng trả tiền cho ngân hàng. Điểm trừ là loại thẻ này chỉ sử dụng trong phạm vi địa phương và dành riêng cho khách của ngân hàng.
the-ngan-hang-3673-1411720245.jpg
Sau nửa thế kỷ xuất hiện, cho đến nay số lượng thẻ các loại đang lưu hành trên toàn thế giới đạt con số hơn 14 tỷ, và có thể vượt 18 tỷ năm 2016.
Năm 1949, tiền thân của thẻ tín dụng ra đời. Một ngày, người đàn ông tên Frank McNamara đi ăn nhà hàng ở New York. Khi thanh toán, Frank nhận ra mình không mang tiền theo và phải gọi vợ đến trả. Sau bữa tối đó, ông nghĩ ra một cách thanh toàn không dùng tiền mặt. Cùng với đối tác, ông lập ra Công ty Diners Club, phát hành loại thẻ chuyên dùng để thanh toán tại các nhà hàng. Chỉ trong năm đầu tiên, có hàng chục nhà hàng ở New York chấp nhận loại thẻ này, và người dùng thẻ lên đến hàng chục nghìn. Dần dần, thẻ được sử dụng thêm ở cả các điểm du lịch, giải trí ngoài lĩnh vực ăn uống.
9 năm sau đó, ngân hàng Bank of America thành lập Công ty dịch vụ BankAmericard, nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ với các ngân hàng thẻ trên thế giới. Công ty này nhanh chóng phát triển và trở thành nhà phát hành thẻ tín dụng độc lập VISA vào những năm 1970 và phát hành thẻ ghi nợ (debit) vào năm 1975.
Năm 1966, tiền thân của MasterCard ra đời. Khi đó, Hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ (ICA) được thành lập bởi một nhóm ngân hàng phát hành thẻ. Họ cùng thiết kế hệ thống thẻ tín dụng quốc gia. Tổ chức này có nhiệm vụ phát triển một hệ thống mạng lưới thanh toán được chấp nhận rộng rãi. Ngày nay, VISA và MasterCard là hai tổ chức thẻ lớn nhất thế giới. Ngoài ra, còn nhiều nhà tổ chức thẻ khác là American Express, Diners Club... cũng tham gia thị trường nhưng ở quy mô nhỏ hơn.
Cũng trong năm này, chiếc thẻ ghi nợ (debit) đầu tiên xuất hiện trên thị trường ngân hàng Mỹ, do Ngân hàng Delaware phát hành. Đến những năm 1970, có nhiều ngân hàng cũng đưa ra ý tưởng tương tự. Robert Manning, tác giả cuốn sách "Quốc gia thẻ tín dụng" cho biết lượng sử dụng thẻ ghi nợ tăng nhanh chóng trong thập kỷ 1980 và 1990. Hàng loạt trạm rút tiền tự động (ATM) được lắp đặt khắp đất nước. Ngày nay, người Mỹ đang dùng nhiều thẻ ghi nợ hơn là thẻ tín dụng. Một khảo sát mới đây cho thấy khi mua sắm hàng ngày, 55% người tiêu dùng Mỹ sử dụng thẻ ghi nợ để thanh toán. Nhiều người dùng thẻ ghi nợ vì thẻ tín dụng bị cắt hoặc họ tự nguyện ngưng dùng thẻ tín dụng để tránh việc lạm chi.
Ngày nay, toàn thế giới đã có khoảng 14,4 tỷ chiếc thẻ ngân hàng các loại đang được lưu hành. Theo báo cáo của MasterCard, nhờ giao dịch thẻ, các quốc gia tiết kiệm được 1% trên GDP so với những chi phí bỏ ra khi giao dịch hoàn toàn bằng tiền mặt. 
Thống kê của một tổ chức cho thấy người tiêu dùng thế giới đang mua sắm nhiều nhất bằng thẻ VISA (60,4% giao dịch mua hàng). MasterCard là loại thẻ được dùng nhiều tiếp theo, chiếm 26,8%. Ngoài ra, vẫn có lượng nhỏ khách hàng dùng thẻ của các hãng như Diners Club, American Express, UniconPay...
Từ tháng 9/2014, VnExpress tổ chức Chương trình bình chọn ngân hàng điện tử yêu thích nhất tại Việt Nam - My Ebank, với sự bảo trợ của Ngân hàng Nhà nước và cố vấn chuyên môn của Công ty Dịch vụ thẻ Smartlink. Hội đồng Chuyên môn của chương trình gồm 8 thành viên là lãnh đạo các cơ quan chức năng, hiệp hội và doanh nghiệp hàng đầu về thanh toán không dùng tiền mặt
Tất cả các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước đang cung cấp dịch vụ Internet Banking và Mobile Banking cho khách hàng cá nhân tại Việt Nam đều có thể đăng ký tham gia chương trình. Dựa trên năng lực thực tế của các ngân hàng, đánh giá của Hội đồng Chuyên môn và bình chọn của độc giả, Ban Tổ chức sẽ công bố Top 5 ngân hàng được yêu thích ở từng hạng mục Internet Banking và Mobile Banking. Giải thưởng chính thức của chương trình, My Ebank sẽ được trao cho ngân hàng có tổng điểm cao nhất ở cả hai hạng mục.
Độc giả bắt đầu tham gia bình chọn trên http://myebank.vnexpress.net từ 8h00 ngày 6/10/2014 đến 24h00 ngày 2/11/2014. 
Lễ công bố và trao giải thưởng My Ebank 2014 sẽ diễn ra tại Hà Nội đầu tháng 11.

Phi công Pháp đã đình công, 1.000 khách Vietnam Airlines bị hủy chuyến

Nguồn tin từ Vietnam Airlines cho biết hãng phải hủy hàng loạt chuyến bay từ TP HCM đi Pháp, cũng như các chuyến bay nối chuyến từ Paris đi châu Âu trong giai đoạn từ 16 đến 28/9.

Hàng loạt chuyến bay đi và về từ Pháp bị hủy trong tháng 9 này do phi công của hãng Air France đình công

Cụ thể, có 4 chuyến bay từ Paris về TP HCM không thực hiện được trong các ngày 16, 18, 25 và 27/9. 5 chuyến khác từ TP HCM đi Paris cũng bị hủy trong các ngày 17, 19, 22, 26 và 28/9. Ngoài 9 chuyến trên, có một chuyến phải lùi thời gian khởi hành 24 giờ. Vietnam Airlines thống kê có hơn 1.000 khách bị ảnh hưởng bởi sự cố này, chưa kể còn nhiều hành khách khác nối chuyến trên các đường bay từ Paris đi châu Âu cũng bị ảnh hưởng theo.
air-france-7879-1411790726.jpg
Hãng Air France đang đối mặt với cuộc đình công kéo dài nhất từ trước đến nay của giới phi công, gây thiệt hại lớn khi hãng phải hủy một nửa số lượng chuyến bay. Mỗi ngày phi công ngừng làm việc, hãng thiệt hại 19 đến 25 triệu USD, theo ước tính của Air France.
Nguyên nhân của tình trạng hủy chuyến là phi công của hãng hàng không Air France (Pháp) đình công từ ngày 15/9. Việc đình công này ảnh hưởng đến các chuyến bay hợp tác liên danh giữa hai hãng hàng không. Vì phi công không làm việc, các chuyến bay của Air France chở khách Vietnam Airlines nói trên bị hủy.
Vietnam Airlines cho biết đang liên hệ với Air France để có thêm thông tin để triển khai phương án phục vụ hành khách phù hợp. Dự kiến việc đình công của giới phi công kéo dài đến ngày 30/9.
Hợp tác liên danh (Code share) là hình thức hợp tác phổ biến với hầu hết các hãng hàng không lớn của thế giới hiện nay. Với chuyến bay liên danh, hành trình của khách có thể được kết hợp bởi nhiều chặng bay của nhiều hãng trên cùng một chuyến bay với chỉ một lần đặt chỗ.
Hiện nay, Vietnam Airlines hợp tác liên danh với nhiều hãng, mới đây nhất là với Jet Airways để mở đường bay từ Việt Nam tới Ấn Độ. Hình thức hợp tác này mang lại nhiều lợi ích cho cả hãng và hành khách như Vietnam Airlines có thể tăng tần suất phục vụ, khách được nối chuyến đi đến các điểm tiếp theo trên cùng một mã đặt chỗ...

Tái cơ cấu kinh tế đang chệch với nguyên tắc thị trường

Không tuân theo nguyên tắc thị trường nên quá trình cổ phần hoá ì ạch, doanh nghiệp chưa lời ăn lỗ chịu, và nghiêm trọng hơn - nguồn lực của xã hội bị phân bổ sai lệch.


Trong ngày thảo luận đầu tiên của Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu với chủ đề “Tái cơ cấu: Kỳ vọng chuyển biến mạnh mẽ và cơ bản”, các diễn giả hàng đầu đã gọi mặt, chỉ tên nguyên nhân khiến quá trình tái cơ cấu đã diễn ra 3 năm mà hiệu quả thu được không rõ ràng. 3 mũi nhọn của tái cơ cấu gồm tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và tái cơ cấu hệ thống tài chính ngân hàng, nhưng cả 3 hướng đều ì ạch.
Các diễn giả chính trong chủ đề thảo luận tái cơ cấu là cựu Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển, hai viện trưởng đầu ngành kinh tế - ông Trần Đình Thiên và Nguyễn Đình Cung. TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam lưu ý rằng, cần phải nhìn nhận ở gốc độ là quá trình này đã đi đúng hướng chưa. ‘Nếu đúng hướng rồi mà kết quả hạn chế thì lỗi là do chưa chịu làm”, ông Thiên nêu quan điểm.
Theo cách tiếp cận này, ông Thiên nhận định, công cuộc tái cơ cấu chưa có kết quả vì có xu hướng đánh giá thấp nguy cơ, trong đó nguyên nhân chính là không tuân thủ nguyên tắc thị trường. “Tái cơ cấu ì ạch vì chúng ta không đánh giá đúng nguyên nhân của nó. Mà nguyên nhân chính là không tuân thủ nguyên tắc thị trường”, chuyên gia này thẳng thắn.
thien11.jpg
Ông Trần Đình Thiên Ảnh: Chí Hiếu
Quan điểm này nhận được sự đồng tình của nguyên Bộ trưởng Trương Đình Tuyển. Ông nói: “Tiến trình tái cơ cấu mà không tạo được chuẩn đo thì sẽ không quản lý được nó”, ông Tuyền nhấn mạnh.
Dẫn chứng cho việc không tuân thủ nguyên tắc thị trường, Viện trưởng Thiên cho rằng Nhà nước đã dành đặc quyền lớn cho một khu vực (doanh nghiệp Nhà nước),  cộng với ham muốn kiểm soát giá cả đã làm thị trường bị méo mó. Cách tiếp cận phi thị trường như vậy dẫn đên cơ cấu đầu tư sai, cơ cấu ngành sai làm chi cơ cấu kinh tế bị lệch càng nghiêm trọng. “Tái cơ cấu vấn đề cốt lõi là phải có kinh tế thị trường đúng nghĩa, nhưng chúng ta lại có xu hướng kiềm chế các quá trình thị trường hóa”, ông Thiên lý giải.
“Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước không nên chỉ đặt trọng tâm là cổ phần hóa mà cần đặt nó trong môi trường cạnh tranh. Quy luật của cơ chế thị trường là cạnh tranh và lợi nhuận”, ông Tuyển nêu quan điểm.
Là một trong những tác giả của đề án tái cơ cấu nền kinh tế, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung cho rằng mấu chốt nằm ở hành động. Ông Cung khẳng định vấn đề áp đặt đầy đủ nguyên tắc thị trường, buộc cạnh tranh công bằng đối với doanh nghiệp đã được nói nhiều, thậm chí rất nhiều. “Nhưng chúng ta chưa làm gì để áp đặt đầy đủ nguyên tắc này đối với doanh nghiệp Nhà nước. Ví dụ như việc ‘ngân sách mềm’ còn phổ biến, thể hiện rằng doanh nghiệp Nhà nước chưa lời ăn lỗ chịu, Chính phủ vẫn đi vay rồi cho các anh cả này vay lại, tức là chưa buộc họ tiếp cận vốn theo nguyên tắc thị trường. Đến khi doanh nghiệp không thanh toán được nợ thì lại cho khoanh nợ, giảm lãi hay chuyển cho doanh nghiệp Nhà nước khác.
Chưa dừng lại ở đó, sự phi trường còn thể hiện ở chỗ khi hàng hóa không bán được thì lãnh đạo bộ, hay địa phương sẵn sàng can thiệp để tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp Nhà nước, còn khi thua lỗ thì tăng giá chứ không nghĩ giảm chi phí  hoặc tăng năng suất. “Hệ quả của nó là làm méo mó thị trường giá, gây thua thiệt cho các doanh nghiệp khác, nhất là khối tư nhân trong nước”, ông cảnh báo.
Tiến sĩ Trần Đình Thiên bổ sung thực tế Nhà nước vừa muốn thoái vốn nhanh nhưng lại không muốn bán theo giá thị trường. Mãi đến năm ngoái quan điểm này mới được thay đổi. “Bán giá gì cũng được, miễn là theo thị trường”, ông Thiên bình luận.
Về điểm này, ông Nguyễn Đình Cung cho rằng chất lượng thoái vốn chưa đạt được, bởi con số gần 30% đã thoái được thực chất chỉ là chuyển giao nội bộ trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước với nhau và lại càng không được bán theo giá thị trường. 
Theo ông Cung, hệ quả mà nền kinh tế đang gánh chịu là kết quả của việc phân bố nguồn lực sai lệch ngày càng rõ nét. Vì vậy, tái cấu nền kinh tế thực chất là phân bố lại nguồn lực để nâng cao hiệu quả phân bổ. “Thị trường méo mó ở Việt Nam rất phổ biến, nhất là các nhân tố sản xuất, cho nên hãy để tự do kinh doanh và tự do thị trường làm nhân tố quyết định trong phân bố nguồn lực, để thị trường vận hành đúng nguyên tắc của nó”, chuyên gia này chốt lại.